Mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 5,64 triệu tấn chất thải nhựa, nhưng chỉ khoảng 0,62 triệu tấn được tái chế, tương đương 11%. Trong khi đó, ngành sản xuất tái chế trong nước vẫn phải nhập khẩu khoảng 400.000 tấn nguyên liệu mỗi năm.
Những số liệu được Unilever Việt Nam dẫn từ báo cáo cuối năm 2025 tại sự kiện khởi động Hành trình Tuần hoàn Nhựa 2026 ở TP.HCM, cho thấy sự đứt đoạn giữa nguồn vật liệu sau sử dụng và nhu cầu của nhà máy.
Dù lượng rác nhựa phát sinh lớn, ngành tái chế vẫn thiếu nguồn nguyên liệu đạt yêu cầu do hạn chế trong khâu phân loại, thu gom và vận chuyển rác đến các nhà máy.
Về vấn đề này, bà Lê Thị Hồng Nhi, Phó Tổng Giám đốc Truyền thông, Đối ngoại và Phát triển bền vững Unilever Việt Nam, cho rằng điểm nghẽn nằm ở khâu trung gian của chuỗi tuần hoàn, từ thu gom riêng từng loại vật liệu đến chuyển giao cho đúng đơn vị tái chế. Việc chưa đồng bộ về hạ tầng, từ phương tiện thu gom đến cơ sở xử lý chuyên biệt cho từng loại nhựa, cũng đang khiến quá trình luân chuyển vật liệu gặp nhiều khó khăn.
Thực tế, một số cơ sở tái chế sử dụng bao bì nhựa mềm để sản xuất tấm vật liệu xây dựng nhưng lại không có đủ nguyên liệu đầu vào, dù loại bao bì này vẫn phát sinh thường xuyên trong sinh hoạt. “Thu gom được bao bì nhựa mềm rất khó, rất khó để đủ số lượng”, bà Nhi chia sẻ.
Theo bà Nhi, khi túi nilon và các vật liệu mềm được phân loại, tập hợp vào cùng một nhóm, khả năng gom đủ lượng để chuyển đi tái chế mới được cải thiện.
Ông Nguyễn Trọng Minh, CEO Công ty CP Công nghệ Grac cho rằng, cần nhìn kỹ vai trò của lực lượng thu gom. Hiện nay, hoạt động thu hồi vật liệu có sự tham gia đáng kể của lực lượng phi chính thức, thường được gọi là ve chai hoặc đồng nát.
Người thu gom ưu tiên chai PET, giấy và các vật liệu có giá trị cao. Những loại giá trị thấp ít được thu nhận, dù một số nhà máy có nhu cầu. Trong khi đó, theo ông Minh, lực lượng chính thức như công ty công ích, công ty môi trường đô thị chưa tham gia trực tiếp đầy đủ vào hoạt động thu gom rác tái chế.
Sự thiếu kết nối này khiến việc phân loại tại hộ gia đình chưa đủ để bảo đảm vật liệu đến được nhà máy. Khi không có người nhận hoặc không gom đủ lượng, vật liệu có khả năng tái chế vẫn có thể rời khỏi chuỗi thu hồi.
Ông Minh đề xuất các chính sách hỗ trợ cần tiếp cận cả lực lượng thu gom chính thức và phi chính thức. Với trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, gọi tắt là EPR, ông mong nguồn lực có thể đến được khâu thu gom, thay vì chỉ tập trung ở nhà tái chế.
Cùng với hạ tầng vật lý, Grac lựa chọn phát triển hạ tầng số để kết nối các bên. Theo ông Minh, đầu tư phương tiện, trạm và nhà máy cần thời gian dài, còn công nghệ dữ liệu có thể triển khai sớm để hỗ trợ tổ chức dòng vật liệu.
Dữ liệu cho biết loại chất thải nào được thu gom, khối lượng bao nhiêu, chuyển qua những đơn vị nào và đến đâu. Nhà sản xuất có cơ sở theo dõi bao bì sau sử dụng, còn người dân biết kết quả phân loại của mình.
“Muốn dữ liệu đáng tin cậy thì cần nhiều bên cùng tham gia, từ nhà tái chế, đơn vị vận chuyển đến người thu gom”, ông Minh nhấn mạnh.
Đây cũng là điều kiện để cơ quan quản lý nhận diện nơi thiếu năng lực thu gom, loại vật liệu chưa có đầu ra và nhu cầu cần bổ sung hạ tầng.
Ông Vũ Đình Nam, Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh, chính sách cần được đưa vào thực tiễn bằng những mô hình, công nghệ và giải pháp có thể triển khai, mở rộng. “Không một chủ thể nào có thể thực hiện một cách riêng lẻ”, ông Nam nói.
Gỡ điểm nghẽn thu gom vì vậy cần sự tham gia của cả người dân, người thu mua phế liệu, đơn vị vận chuyển và nhà máy. Khi từng loại nhựa được thu hồi đúng cách, đủ lượng và có đầu ra, nguồn vật liệu đang bị bỏ phí mới có thể trở thành nguyên liệu sản xuất ổn định.
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
